Trang Chính   Hình Ảnh   Âm Nhạc   Pháp Âm   Video Youtube   Trắc Nghiệm   Gởi Thiệp     Hôm nay, ngày 21/11/2017


TÌM KIẾM  

Trong:

Your IP Address:
54.80.157.133
TRANG NHẤT > THƠ CA
Cỡ chữ:  Thu nhỏ Phóng to
Cập nhật ngày 07/01/2015 (GMT+7)

KÍ MỘNG - Thơ chữ Hán của NGUYỄN DU - HẠNH CƠ dịch và chú giải




KÍ MỘNG
Thơ chữ Hán của NGUYỄN  DU
HẠNH CƠ dịch và chú giải

記夢
逝水日夜流
遊子行未歸
經年不相見
何以慰相思
夢中分明見
尋我江之湄
顏色是疇昔
衣飾多參差
始言苦病患
繼言久別離
帶泣不終語
彷彿如隔帷
平生不識路
夢魂還是非
叠山多虎虒
藍水多蛟螭
道路險且惡
弱質將何依
夢來孤燈清
夢去寒風吹
美人不相見
柔情亂如絲
空屋漏斜月
照我單裳衣

PHIÊN ÂM

Thệ thủy nhật dạ lưu
Du tử hành vị quy
Kinh niên bất tương kiến
Hà dĩ úy tương ti (tư)
Mộng trung phân minh kiến
Tầm ngã giang chi mi
Nhan sắc thị trù tích
Y sức đa sâm si (sai)
Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn
Kế ngôn cửu biệt li
Đới khấp bất chung ngữ
Phảng phất như cách duy
Bình sinh bất thức lộ
Mộng hồn hoàn thị phi
Điệp sơn đa hổ ti,
Lam thủy đa giao li,
Đạo lộ hiểm thả ác
Nhược chất tương hà y
Mộng lai cô đăng thanh
Mộng khứ hàn phong xuy
Mĩ nhân bất tương kiến
Nhu tình loạn như ti,
Không ốc lậu tà nguyệt,
Chiếu ngã đơn thường y


DỊCH NGHĨA

Nước chảy suốt ngày đêm
Người đi xa chưa về
Đã bao năm rồi không gặp lại
Biết lấy gì khuây khỏa nỗi nhớ nhung
Trong mộng thấy rõ ràng
Nàng tìm ta ở bến sông
Dung nhan vẫn như xưa
Áo quần trông xốc xếch
Ban đầu nàng kể chuyện ốm đau
Sau đó nói đến nỗi niềm xa cách lâu ngày
Rồi chỉ nghe khóc rấm rức mà nói không hết lời
Bóng nàng phảng phất như cách một bức màn
Bình sinh nàng vốn không biết đường đến đây
Làm sao hồn mộng biết rõ đường đi đúng hay sai
Núi Tam-điệp nhiều hổ báo
Sông Lam lắm thuồng luồng
Đường sá xấu lại hiểm trở
Thân yếu đuối biết nhờ cậy ai
Mộng đến ngọn đèn cô đơn chiếu sáng
Mộng đi gió thổi lạnh lùng
Người đẹp không còn thấy nữa
Mối tình vấn vương làm lòng ta rối như tơ
Ánh trăng tà lọt vào nhà trống
Soi trên mảnh áo đơn của ta

CHÚ GIẢI

Trong bài thơ này, cụ Nguyễn Du (1765-1820) ghi lại giấc mộng thấy người vợ đã mất tìm về thăm. Đây là bà vợ đầu, họ Đoàn, quê ở xã Hải-an, huyện Quỳnh-côi, tỉnh Thái-bình (Bắc-Việt), cưới năm cụ 21 tuổi (1786); lúc đó cụ đang làm quan ở tỉnh Thái-nguyên (dưới triều vua Lê Chiêu-thống). Năm 1789, Bắc-bình vương Nguyễn Huệ từ Phú-xuân ra Bắc đánh đuổi quân xâm lược nhà Thanh, chấm dứt triều đại nhà Lê; vua Lê Chiêu-thống phải chạy trốn sang Tàu. Nguyễn Du bèn cùng vợ về Thái-bình (quê vợ), ở nhờ nhà của người anh vợ là ông Đoàn Nguyễn Tuấn, sống ẩn nhẫn chờ thời mong khôi phục nhà Lê. Năm 1795, bà vợ họ Đoàn bị bệnh rồi mất. Vợ mất rồi, Nguyễn Du không muốn tiếp tục sống cảnh ăn nhờ ở đậu nữa, bèn quyết định rời Thái-bình để trở về tổ quán ở làng Tiên-điền, huyện Nghi-xuân, tỉnh Hà-tĩnh (Trung-Việt); đó là vào đầu năm 1796, Nguyễn Du được 31 tuổi. Vậy, giấc mộng ở đây đã xảy ra trong thời gian cụ sống ở quê nhà Hà-tĩnh, nơi có rặng núi Hồng-lĩnh và con sông Lam nổi tiếng.
Bài thơ đã được mở đầu bằng hình ảnh dòng nước chảy ngày đêm không ngừng nghỉ, một sự ra đi không bao giờ trở lại, để dẫn đến sự việc cụ sắp nói đến, đó là sự ra đi vĩnh viễn của người vợ đầu, với lòng nhớ thương da diết của cụ trải đã mấy năm:

Thệ thủy nhật dạ lưu
Du tử hành vị quy
Kinh niên bất tương kiến
Hà dĩ úy tương tư

Hai chữ “vị qui” (chưa về) trong câu thứ hai cho thấy rằng, bà Đoàn mất, trên thực tế là một sự ra đi vĩnh viễn, nhưng đối với riêng cụ Nguyễn Du, thì bà chẳng bao giờ chết, mà chỉ như đang đi chơi xa chưa về. Nhưng vì bà đi lâu quá, khiến cho cụ phải nhớ mong chờ đợi, từ đó mà dẫn đến giấc mộng cụ thấy bà về thăm.
Từ câu “Mộng trung phân minh kiến” đến câu “Nhược chất tương hà y”, cả thảy 14 câu, cụ ghi lại những tình tiết trong giấc mộng ấy.
Chữ “giang” (sông) trong câu “Tầm ngã giang chi mi” (nàng tìm ta ở bến sông) là chỉ cho sông Lam, một con sông lớn ở vùng Nghệ-an - Hà-tĩnh. Sông Lam cũng gọi là sông Cả, bắt nguồn từ cao nguyên Xiengkhuang, nước Lào. Phần chính của con sông chảy qua các huyện Kì-sơn, Đô-lương, Nam-đàn v.v… của tỉnh Nghệ-an; phần cuối của sông hợp lưu với sông La từ Hà-tĩnh, tạo thành ranh giới của Nghệ-an và Hà-tĩnh, chảy qua các huyện Đức-thọ, Nghi-xuân, thị xã Hồng-lĩnh của tỉnh Hà-tĩnh, rồi đổ ra biển Đông tại cửa Hội.
Chữ “cách duy” (cách bức màn) trong câu thứ 12 của bài thơ, “Phảng phất như cách duy” (phảng phất như cách bức màn), là lấy từ điển tích: Vợ vua Hán Vũ đế (140-87 tr. TL) là Lí phu nhân, vừa xinh đẹp vừa giỏi múa hát, nhưng chết sớm, vua rất thương tiếc. Có người thầy pháp nói có thể chiêu hồn Lí phu nhân về, nhà vua chấp thuận. Đến đêm, người ấy giăng màn, đốt nến, để vua ngồi trong mùng, nhìn sang bức màn ấy, thấy bóng một người đàn bà phảng phất trên bức màn, trông giống hệt như Lí phu nhân. Ở đây, trong giấc mộng, cụ Nguyễn Du thấy hình ảnh vợ cũng tương tự như vậy.
Câu thứ 13, “Bình sinh bất thức lộ” (Lúc sinh tiền không biết đường sá), ý nói, thuở sinh tiền bà Đoàn chỉ ở quê hương Thái-bình, không đi đâu xa, thậm chí cũng chưa từng về quê chồng ở Hà-tĩnh, thì làm sao biết đường mà tìm đến Tiên-điền để thăm chồng!
Từ “Điệp sơn” trong câu thứ 15, “Điệp sơn đa hổ ti”, là chỉ cho núi Tam-điệp, tục gọi là đèo Ba-dội. Đây là rặng núi gồm có ba ngọn, chạy dài trên 20 km, theo hướng Tây-Bắc - Đông-Nam; đầu Tây-Bắc nối liền với vùng rừng núi Hòa-bình, đầu Đông-Nam gần sát với bờ biển vịnh Bắc-Việt; chắn ngang đường quốc lộ Bắc - Nam, làm ranh giới thiên nhiên hiểm yếu giữa hai tỉnh Ninh-bình và Thanh-hóa, đồng thời cũng là ranh giới ngăn cách hai miền Bắc và Trung Việt-nam. Đây là nơi núi non hùng vĩ, như bức tường thành án ngữ giữa hai miền, đường sá cheo leo, nhiều thú dữ, lắm khe sâu vực thẳm, vô cùng hiểm trở.
Trong mộng, cụ Nguyễn Du nghĩ tới vợ mình, thân đàn bà yếu đuối, mà phải lặn lội từ tỉnh Thái-bình, qua các tỉnh Nam-định, Ninh-bình ở miền Bắc, rồi vượt ba đoạn đường đèo núi Tam-điệp hung hiểm của tỉnh Thanh-hóa địa đầu miền Trung, qua tỉnh Nghệ-an, lội qua sông Lam, nơi có nhiều loài thủy tộc độc dữ, mới đến được làng Tiên-điền, tỉnh Hà-tĩnh (quê hương cụ đang sống), để thăm cụ, thật là vô cùng vất vả, hiểm nguy, đáng thương biết bao!

Điệp sơn đa hổ ti
Lam thủy đa giao li
Đạo lộ hiểm thả ác
Nhược chất tương hà y

 Đến đây thì cụ thức giấc, hết mộng, hình bóng người vợ cũng biến mất, chỉ còn lại nơi cụ mối cảm hoài nhớ thương trong khoảng không gian cô đơn lạnh lẽo!


CHUYỂN RA VĂN VẦN

GHI LẠI GIẤC MỘNG

Nước đi đi mãi không dừng
Người đi đi mãi chưa từng về thăm
Đêm ngày nhớ tưởng âm thầm
Bao năm chưa lại một lần gặp nhau
Làm sao giải nỗi buồn đau
Làm sao khuây khỏa mối sầu tương tư
Đêm qua trong mộng sững sờ
Rõ ràng nàng đến nơi bờ sông đây
Tìm ta nhiều nỗi tỏ bày
Trước tiên là chuyện những ngày ốm đau
Sau nữa là mối u sầu
Nhớ nhung từ những ngày đầu biệt li
Nỗi buồn như dại như si
Nghẹn ngào còn biết nói chi cho cùng
Dung nhan vẫn nét trẻ trung
Áo quần xốc xếch trông chừng tả tơi
Bỗng dưng lòng thấy bồi hồi
Bóng nàng phảng phất chơi vơi cách màn
Bình sinh vốn chẳng biết đường
Làm sao hồn mộng tỏ tường đúng sai
Núi Điệp hổ báo ra oai
Sông Lam là ổ của loài giao long
Đường đi hiểm trở vô cùng
Thân yếu đuối biết ai mong nương nhờ
Mộng về đèn lóe sáng ngời
Mộng tàn gió lạnh tỏa người cô đơn
Bóng nàng đang lúc chập chờn
Bỗng dưng biến mất chẳng còn thấy đâu
Nỗi đau lại chất mối sầu
Tơ vò trăm mối rối bù lòng ta
Phòng không lọt ánh trăng tà
Soi trên áo mỏng trông ra dặm trường


Quay lại In Bài Viết này Gởi cho người thân  
 CÁC BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ
 

Date News :

Trang Chủ | Lịch Sinh Hoạt | Hình Ảnh | Âm Nhạc | Trắc Nghiệm | Xem Phim | Liên Kết | Liên Hệ
Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam - Pháp Vân
420 Traders Blvd. East Mississauga, Ontario, L4Z 1W7 CANADA (Tel): (905) 712-8809 (Fax):(905) 712-8836